Diễn Đàn Bác Sĩ Y Học Dự Phòng

Diễn Đàn Bác Sĩ Y Học Dự Phòng

TƯƠNG LAI LÀ DO CHÚNG TA QUYẾT ĐỊNH
 
Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
524 Số bài - 36%
429 Số bài - 29%
311 Số bài - 21%
116 Số bài - 8%
29 Số bài - 2%
24 Số bài - 2%
12 Số bài - 1%
11 Số bài - 1%
10 Số bài - 1%
8 Số bài - 1%


Admin nhắn với tất cả: xi lỗi trong thời gian qua do bạn công tác nên admin vắng nhà bây giờ admin đã trở lại sẽ làm cho diễn đàn tươi mới hơn              mr_soc nhắn với ydp10: co ai la dan ydp tp hcm ko.cung lam wen giup do mhau trong hok tap nha                 
Bạn phải đăng nhập để gửi Thông điệp
Tài khoản:Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập:
:: Quên mật khẩu
Gửi đến :
Emoticon
Lời nhắn :

|
Bookmarks

Mô Tả Tiếng Phổi Bệnh Lý

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Mon Oct 25, 2010 5:22 pm
không có việc gì khó, chỉ tại không biết làm
avatar
hieu126
menber

Cấp bậc thành viên
Danh vọng:
524%/1000%

Tài năng:%/100%

Liên lạc
Xem lý lịch thành viên

Thông tin thành viên
» Tổng số bài gửi : 524
» Points : 1579
» Reputation : 9
» Join date : 15/10/2010
» Hiện giờ đang:

Bài gửiTiêu đề: Mô Tả Tiếng Phổi Bệnh Lý


Các tiếng bệnh lý khi nghe phổi:


1. Các tiếng thổi: khi nhu mô phổi bị đông đặc, tiếng thở thanh khí quản được dẫn truyền một cách bất thường quá phạm vi bình thường của nó ra ngoại vi thành ngực. Một tiếng thổi luôn được mô tả theo: cường độ, âm độ, âm sắc và liên quan của nó với thì thở.
1.1. Tiếng thổi ống: tiếng thổi ống là tiếng thở thanh khí quản được dẫn truyền bất thường ra ngoại vi lồng ngực qua tổn thương đông đặc của nhu mô phổi.
- Đặc điểm:
+ Cường độ mạnh.
+ Âm độ: cao, chói tai.
+ Âm sắc: Nghe như thổi qua một cái ống nhỏ.
+ Tiếng thổi ống nghe thấy cả hai thì , song mạnh hơn ở thì hít vào và thường kèm theo tiếng ran nổ.
- Điều kiện:
+ Vùng phổi đông đặc rộng và ở gần thành ngực.
+ Phế quản lưu thông không quá nhỏ.
+ Lưu lượng hô hấp đủ lớn
- Giá trị chẩn đoán: khi kết hợp với các triệu chứng gõ đục, rung thanh tăng tạo nên hội chứng đông đặc điển hình gặp trong viêm phổi thuỳ, ổ nhồi máu phổi lớn.
1.2. Tiếng thổi hang: - Tiếng thổi hang là tiếng thở thanh khí quản được dẫn truyền bất thường ra ngoại vi lồng ngực qua một hang rỗng chứa khí có vai trò cộng hưởng nằm trong nhu mô phổi bị đông đặc.
- Đặc điểm:
+ Cường độ: trung bình.hoặc mạnh.
+ Âm độ: trầm.
+ Âm sắc: rỗng.xoáy. Giống như thổi qua miệng của cái chai.
+ Nghe thấy cả hai thì song mạnh nhất ở thì hít vào.
- Điều kiện: hang đủ lớn ( từ 3 cm trở lên ) , ở không quá xa thành ngực, xung quanh có tổn thương đông đặc hoặc tổn thương xơ ( lao xơ hang ) và thông với phế quản dẫn lưu.
- Giá trị chẩn đoán: cùng với tiếng ran hang, tiếng ngực thầm tạo nên hội chứng hang của Laennec. Gặp trong lao phổi, áp xe phổi.
-Cần phân biệt với tiếng thổi giả hang do khí quản bị xơ co kéo.
1.3. Thổi màng phổi:
- Là tiếng thở thanh khí quản được dẫn truyền bất thường qua tổ chức phổi bị ép lại hoặc bị đông đặc, truyền ra ngoại vi lồng ngực qua lớp dịch trong khoang màng phổi.
- Đặc điểm:
+ Cường độ: yếu.
+ Âm độ: cao.
+ Âm sắc: nghe như tiếng thổi ống, nhưng êm dịu, xa xăm.
+ Nghe rõ ở thì thở ra. Nghe thấy ở sát phía trên của mức dịch.
- Điều kiện: tràn dịch màng phổi mức độ vừa,và nhiều. Nhu mô phổi phía dưới lớp dịch bị đông đặc lại.do dịch chèn ép.Hoặc tràn dịch màng phổi có kèm đông đặc phổi.
1.4. Tiếng thổi vò ( hoặc tiếng thổi bình kim khí ): - Là tiếng thở thanh khí quản được dẫn truyền một cách bất thường ra ngoại vi thành ngực qua một khoang rỗng chứa khí đóng vai trò hòm cộng hưởng. Gặp trong tràn khí màng phổi hoặc tràn khí màng phổi hở hoặc nắp van có lỗ dò thông giữa phế quản màng phổi. Còn gặp trong tổn thương phổi có hang, hang ³ 6, cm thành hang nhẵn và nhu mô phổi xung quanh bị đông đặc hoặc xơ hoá.
- Đặc điểm:
+ Cường độ: yếu.
+ Âm độ: cao.
+ Âm sắc: như thổi vào một bình lớn, rỗng, cổ hẹp, có âm sắc kim khí.
+ Nghe rõ ở thì thở ra, thường kèm theo tiếng lanh tanh kim khí và tiếng ho kim khí ( gọi là hội chứng bình kim khí ).
2. Tiếng ran: Là những tạp âm bệnh lý sinh ra khi có luồng không khí đi qua phế quản, phế nang có nhiều dịch tiết hoặc bị hẹp lại. Các tiếng ran có thể bị thay đổi theo thì hô hấp hoặc sau khi ho.
2.1. Ran rít, ran ngáy ( ran khô ) : là tiếng ran xuất hiện khi luồng khí đi qua phế quản bị hẹp lại do co thắt, bị chèn ép, phù nề niêm mạc, u, hoặc dị vật trong lòng phế quản...
Ran rít

Ran ngáy


- Cường độ: trung bình hoặc cao phụ thuộc vào mức độ tắc nghẽn phế quản.

- Phụ thuộc vào mức độ tắc nghẽn phế quản

- Âm độ: cao

- Trầm.

- Âm sắc: nghe như tiếng gió rít qua khe cửa.

- Nghe như tiếng ngáy ngủ.

- Nghe thấy ở cuối thì thở vào và thì thở ra

- cuối thì thở vào và thì thở ra

- Có thể thay đổi sau ho

- Có thể thay đổi.

- Cơ chế: co thắt chít hẹp các phế quản nhỏ và vừa

- Chít hẹp phế quản lớn
- Tiếng ran rít, ngáy: là triệu chứng đặc trưng của hội chứng phế quản. Gặp trong hen phế quản ,viêm phế quản cấp, mạn .
- Tiếng ran rít cục bộ: gặp trong u hoặc dị vật phế quản ( Wheezing ).
- Trong cơn hen phế quản nghe thấy tiếng ran rít, ran ngáy phối hợp với ran ẩm thành một hợp âm giống tiếng bồ câu gù.2.2. Tiếng ran ẩm:
- Là tiếng ran xuất hiện khi không khí làm chuyển động dịch xuất tiết nhầy, hoặc mủ trong phế quản và phế nang.
- Đặc điểm: Cường độ to,nhỏ không đều. Âm độ: cao. Âm sắc: nghe như tiếng lọc xọc của khí và dịch va trộn. Nghe thấy ở thì thở vào và đầu thì thở ra, giảm , hoặc mất sau khi ho.
- Ý nghĩa: Gặp trong viêm phế quản xuất tiết dịch, giãn phế quản, hoặc các bệnh lý khác gây xuất hiện dịch trong phế quản và phế nang:Lao xơ hang, vỡ ổ mủ áp xe vào phế quản, phù phổi cấp...Ngoài ra , tiếng ran ẩm còn gặp trong ứ trệ trong phổi như suy tim trái.
2.3. Ran nổ: - Là tiếng phát ra khi luồng khí bóc tách các phế nang bị lớp dịch rỉ viêm làm dính lại.
- Đặc điểm: cường độ mạnh hay yếu phụ thuộc vào lưu lượng hô hấp vào diện tổn thương và vị trí của tổn thương so với thành ngực. Âm độ: cao. Âm sắc: khô, nhỏ lép bép như tiếng muối rang. Nghe rõ ở cuối thì hít vào. Khi ho nghe rõ hơn.
- Ý nghĩa: là triệu chứng đặc trưng của hội chứng đông đặc. Chứng tỏ có viêm nhu mô phổi. Gặp trong viêm phổi, lao phổi, nhồi máu phổi.
- Cần phân biệt với:
+ Ran nổ sinh lý do xẹp phế nang, ở những người nằm lâu. Tiếng này mất đi sau vài nhịp hô hấp mạnh.
+ Tiếng ran Velcro gặp trong viêm phổi kẽ: nghe như tiếng bóc băng dính.
2.4. Ran hang: - Đây là tiếng ran nổ, ran ẩm tạo ra khi lớp dịch trong hang ( chỗ thông giữa phế quản và hang có dịch xuất tiết ) bị khuấy động khi thở ra, thở vào. Hoặc hang đóng vai trò của hòm cộng hưởng cho tiếng ran ẩm và ran nổ của tổ chức nhu mô phổi đông đặc xung quanh hang. Tiếng ran nghe đanh, khu trú, thấy ở một hoặc hai thì. Khi ho có thể bị thay đổi. Tiếng ran hang thường nghe thấy trong lao phổi có hang , xung quanh có đông đặc và có phế quản dẫn lưu.
3. Tiếng cọ màng phổi: - Đó là tiếng phát ra khi 2 lá màng phổi bị viêm cọ sát vào nhau.
- Đặc điểm: nghe khô, thô ráp và ở nông, cảm giác gần tai. Cường độ và âm sắc rất thay đổi, có khi như tiếng cọ của 2 miếng lụa, có khi thô ráp như tiếng cọ của 2 tấm da mới cọ vào nhau. Nghe thấy ở cả 2 thì, có khi ở thì hít vào. Nghe rõ khi ấn thật sát ống nghe vào thành ngực.
- Ý nghĩa: gặp trong viêm màng phổi khô và tràn dịch màng phổi ở giai đoạn đầu khi mới có dich hoặc giai đoạn hấp thu chỉ còn rất ít dịch.


«Ðề Tài Trước|Ðề Tài Kế»


Trả lời nhanh
Trang 1 trong tổng số 1 trang
Có Bài Mới Có bài mới đăngChưa Có Bài Mới Chưa có bài mớiChuyên Mục Ðang Bị Khóa Ðã bị đóng lại
Free forum | © phpBB | Free forum support | Report an abuse | Create your own blog