Diễn Đàn Bác Sĩ Y Học Dự Phòng

Diễn Đàn Bác Sĩ Y Học Dự Phòng

TƯƠNG LAI LÀ DO CHÚNG TA QUYẾT ĐỊNH
 
Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
524 Số bài - 36%
429 Số bài - 29%
311 Số bài - 21%
116 Số bài - 8%
29 Số bài - 2%
24 Số bài - 2%
12 Số bài - 1%
11 Số bài - 1%
10 Số bài - 1%
8 Số bài - 1%


Admin nhắn với tất cả: xi lỗi trong thời gian qua do bạn công tác nên admin vắng nhà bây giờ admin đã trở lại sẽ làm cho diễn đàn tươi mới hơn              mr_soc nhắn với ydp10: co ai la dan ydp tp hcm ko.cung lam wen giup do mhau trong hok tap nha                 
Bạn phải đăng nhập để gửi Thông điệp
Tài khoản:Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập:
:: Quên mật khẩu
Gửi đến :
Emoticon
Lời nhắn :

|
Bookmarks

Những Điều Cần Biết Về Ung Thư (phần 1)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Mon Oct 25, 2010 5:15 pm
không có việc gì khó, chỉ tại không biết làm
avatar
hieu126
menber

Cấp bậc thành viên
Danh vọng:
524%/1000%

Tài năng:%/100%

Liên lạc
Xem lý lịch thành viên

Thông tin thành viên
» Tổng số bài gửi : 524
» Points : 1579
» Reputation : 9
» Join date : 15/10/2010
» Hiện giờ đang:

Bài gửiTiêu đề: Những Điều Cần Biết Về Ung Thư (phần 1)


Lang thang trên mạng tìm tài liệu ung thư thấy cái này hay hay thì đem về cho mọi người xem có giúp được gì không.nhớ thank nha
Theo:Bác sĩ Trần Lý Lê
A. Ung thư là gì?
Ung thư là tên gọi chung của các bệnh tật từ tế bào - đơn vị căn bảncủa sự sống - mà ra. Muốn hiểu về ung thư, ta cần biết tại sao tế bàobình thường, khoẻ mạnh lại trở nên ung hoại. Cơ thể con người được cấutạo bởi nhiều bộ phận, mỗi bộ phận có một hoặc nhiều loại tế bào. Thôngthường, tế bào chỉ sinh sôi nảy nở khi cần thiết. Tế bào khi già lão sẽchết, và được thay thế bởi những tế bào mới. Sự sinh sản có trật tự nàygiúp cơ thể duy trì sức khoẻ. Tuy nhiên, đôi khi sự sinh sản trật tựnày bị đảo lộn, tế bào cứ tiếp tục sinh sôi mặc dù cơ thể không cầnđến; những tế bào thừa thãi này gom lại thành một khối mô, gọi là bướuhay u.
Bướu có thể lành hoặc độc:
a) Bướu lành (lành tính): - Bướu lành không phải là ung thư, không gâytử vong - Nói chung, bướu lành có thể được cắt bỏ, và thường không táisinh. - Những tế bào trong bướu lành không ăn lậm đến các mô lân cận -Những tế bào trong bướu lành không lan ra những bộ phận khác trong cơthể.
b) Bướu độc (ác tính): Bướu độc cũng được gọi là ung thư. - Bướu độc cóthể gây tử vong. - Bướu độc thường được cắt bỏ nhưng có thể tái sinh. -Những tế bào trong bướu độc có thể ăn sâu và hủy hoại những tế bào, bộphận chung quanh. Tế bào ung thư có thể thoát ra ngoài bướu, vào dòngmáu hoặc dòng bạch huyết (lymphatic system) và lan tràn từ nơi ung hoạiđầu tiên (primary site) qua những bộ phận khác, tạo thành những bướuđộc mới. Sự lan tràn của tế bào ung thư gọi là metastasis. Ung thư đượcđặt tên theo những bộ phận trong cơ thể hoặc những tế bào nơi sự unghoại khởi đầu. Chẳng hạn như ung thư khởi đầu từ phổi được gọi là ungthư phổi, loại ung thư khởi đầu từ tế bào (tạo ra màu nâu đen) trongda, melanocytes, được gọi là melanoma. Khi ung thư lan từ nơi khởi thủyđến những bộ phận khác, bướu độc mới sẽ có cùng một loại tế bào bấtthường và có cùng một tên gọi như bướu độc nguyên thủy. Thí dụ, khi ungthư phổi lan đến não bộ, tế bào ung thư tìm thấy trong não bộ là nhữngtế bào phổi đã ung hoại. Biến chứng này gọi là ung thư phổi đã lan tràn(không phải là ung thư não bộ), hay ung thư phổi di căn. Khi ung thưlan tràn, ta sẽ tìm thấy tế bào ung thư trong những hạch bạch huyết cầulân cận. Nếu ung thư đã vào đến những hạch bạch huyết cầu này thì cónghĩa là ung thư có thể đã lan đến những bộ phận khác như gan, xương,hay não bộ.
B. Những yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư
Y học chưa giải thích được tại sao người này bị ung thư mà người kháckhông bị ung thư. Nhưng qua việc nghiên cứu, các chuyên gia đã tìm thấymột số yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư (risk factors); những yếu tố nàybao gồm: - Tuổi tác - Thuốc lá, thuốc lào - Ánh nắng - Một số hóa chất- Một số vi khuNn và siêu vi khuẩn.
- Một vài nội tiết tố - Thân nhân bị ung thư - Rượu - Thiếu dinh dưỡng,thiếu vận đông và bệnh mập phì Có những yếu tố có thể tránh, nhưng cũngcó những yếu tố không thể ngăn ngừa như y sử của gia đình. Hãy làmnhững việc có thể làm để duy trì sức khỏe, tránh các yêu tố gia tăng tỷlệ ung thư. Nếu lo âu về chứng ung thư, ta nên thảo luận với bác sĩ.Qua thời gian một số yếu tố tác động lẫn nhau khiến các tế bào lànhmạnh trở nên hư hoại. Khi nghĩ đến các yếu tố gây ung thư, cần nhớnhững chi tiết căn bản sau đây: - Không phải bất cứ thứ gì cũng gây ungthư - Ung thư không do thương tích - Ung thư không phải là bệnh truyềnnhiễm, lây từ người này sang người khác. Tuy nhiên một số vi khuNn vàsiêu vi khuNn gây nhiễm trùng và là yếu tố gia tăng tỷ lệ của một vàiloại ung thư, nói chung, ung thư không lây bệnh. - Có một số yếu tố kểtrên không có nghĩa là là sẽ bị ung thư:
1) Tuổi tác: Yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư quan trọng nhất là tuổi già.Hầu hết các ung thư bộc phát trong tuổi 65 trở lên, nhưng mọi tuổi đềucó thể bị ung thư kể cả trẻ em.
2) Thuốc lào, thuốc lá, gọi chung là “tobacco”: Ngưng dùng thuốc làothuốc lá là việc dễ thực hiện nhất để ngăn ngừa ung thư. Mỗi năm khoảng180 ngàn người Hoa Kỳ chết vì các loại ung thư liên quan đến việc dùngthuốc lào, thuốc lá. Dùng thuốc lào thuốc lá hoặc sống trong môi trườngthường xuyên có khói thuốc là yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư. Người hútmỗi ngày 1 bao thuốc lá có xác suất bị ung thư phổi 10 lần cao hơn sovới những người không hút thuốc lá. Ngoài ung thư phổi, người hút thuốclá còn có thể bị ung thư miệng, cuống họng, thực quản, bàng quang, dạdày, tụy tạng hoặc cổ tử cung. Họ có tỷ lệ ung thư bạch huyết cao hơnnhững người không hút thuốc lá. Những người dùng thuốc lá không khói,nhai thuốc lào, có tỷ lệ ung thư miệng cao hơn những người khác.
3) Ánh nắng: Tia cực tím từ mặt trời và các loại máy tạo ánh nắng (giúpcho da nâu hồng) khiến da lão hóa nhanh chóng và gây hư hại tế bào dađưa đến ung thư da. Tránh nắng và những loại máy móc phát ra tia cựctìm để bảo vệ da. Tránh ánh nắng giữa ngày, mặc quần áo dài che kínchân tay, đội mũ nón và kính mát để bảo vệ da và mắt. Dùng kem chốngnắng với sun protective factor, SPF it nhất là 15.
4) Tia phóng xạ (ionizing radiation): Tia phóng xạ gây hư hoại tế bàovà có thể dẫn đến ung thư. Loại phóng xạ này từ đến mặt đất từ các hànhtinh khác, từ những máy móc dùng tia phóng xạ để chNn bệnh (X ray) hoặcchữa bệnh (radiation therapy), radon, bom nguyên tử hoặc từ các nhà máynguyên tử lực. Người bị nhiễm phóng xạ có tỷ lệ ung thư bạch huyết,tuyến giáp trạng, vú, phổi và dạ dày cao hơn những người khác. Radon làmột loại phóng xạ trong thể khí không màu, không mùi vị, đến từ đất đá.Thợ hầm mỏ có thể bị nhiễm radon. Tại một vài nơi, radon từ lòng đấtlan vào trong nhà. Radon gia tăng tỷ lệ ung thư phổi. Y học dùng quangtuyến để chụp một vài bộ phận trong cơ thể, để chNn đoán thương tíchtại xương và một vài bộ phận khác. Bác sĩ cũng dùng xạ trị để chữa ungthư. Phóng xạ từ việc chụp quang tuyến là một lượng rất nhỏ, từ máy xạtrị lượng phóng xạ cao hơn. Tuy nhiên, khi so sánh lợi và hại, việc sửdụng phóng xạ này có lợi nhiều hơn cho bệnh nhân.
5) Hóa chất và các chất khác: Thợ sơn, thợ nề và những người làm việctrong môi trường có hóa chất có thể có tỷ lệ ung thư cao hơn vì tiếpxúc với asbestos, benzene, benzidine, cadmium, nickel hoặc vinylchloride. Cần theo lời chỉ dẫn của nhà sản xuất và dùng quần áo bọcngoài, giầy dép, mũ nón, mặt nạ để bảo cơ thể.
6) Vi khuNn và siêu vi khuNn: Nhiễm trùng do vi khuNn hoặc siêu vikhuNn sau có thể gia tăng tỷ lệ ung thư: - Human Papillomaviruses(HPVs): Nhiễm trùng HPV là nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung, vàcũng là yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư của các loại ung thư khác - Siêuvi khuNn Hepatitis B và Hepatitis C: Ung thư gan có thể bộc phát saunhiều năm bị viêm gan do nhiễm trùng bởi 2 loại siêu vi khuNn kể trên -Siêu vi khuNn Human T-cell leukemia/lymphoma (THLV-1); Nhiễm trùng bởiTHLV-1 gia tăng tỷ lệ ung thư bạch huyết và lymphoma - Siêu vi khuNnHuman immunodeficiency (HIV): HIV gây ra chứng bệnh AIDS, những ngườibị AIDS có tỷ lệ ung thư lymphoma và Karposi sarcoma cao hơn nhữngngười khác - Siêu vi khuNn Epstein-Barr (EBV): gia tăng tỷ lệ ung thưlymphoma - Siêu vi khuNn Human herpesvirus 8 (HHV8): gia tăng tỷ lệ ungthư Kaposi sarcoma - Vi khuNn Helicobacter pylori: Vi khuNn này gây lởdạ dày và có thể gây ung thư dạ dày và lymphoma tại dạ dày HPV, viêmgan B và C, HIV gây nhiễm trùng qua việc giao hợp với người bị nhiễmtrùng, cần dùng những phương pháp phòng ngừa. Không dùng chung kimchích với người khác, thân hoặc sơ. Nên chích ngừa chứng viêm gan B.
7) Nội tiết tố: Bác sĩ có thể dùng nội tiết tố (như estrogen vàprogesterone) chữa những triệu chứng do sự tắt kinh như nóng lạnh, khôâm đạo, và loãng xương. Các nội tiết tố này có thể gia tăng tỷ lệ ungthư vú, bệnh tim mạch, và đông máu. Khi quý bà muốn dùng nội tiết tố,cần thảo luận sự lợi / hại với bác sĩ. Thuốc Diethylstillbestrol (DES),một loại estrogen, trước đây được dùng để giảm ói mửa khi thai nghén:DES gia tăng tỷ lệ ung thư vú, gia tăng tỷ lệ ung thư cổ tử cung củacon gái của những phụ nữ dùng thuốc này.
Cool Thân nhân bị ung thư: Hầu như mọi loại ung thư đến từ sự thay đổi(biến thái, mutation) của di thể. Một tế bào lành mạnh có thể trở thànhtế bào ung thư sau khi một số thay đổi diễn tiến tại di thể. Thuốc lá,thuốc lào, một số vi khuNn hoặc những yếu tố trong nếp sống hằng ngàycó thể tạo ra sự thay đổi tại di thể. Một số thay đổi trong di thể cóthể truyền từ cha mẹ sang con cái. Sự thay đổi này hiện diện trong mọitế bào của đứa con ngay khi chào đời. Di truyền tính ung thư không xuấthiện thường xuyên, chỉ bộc phát trong một số gia tộc, và liên quan đếncác di thể truyền từ cha mẹ sang con cái. Ngoài ra những yếu tố kháctrong môi trường sinh sống cũng có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi tại dithể này.
9) Rượu: Uống trên 2 ly rượu mỗi ngày gia tăng tỷ lệ ung thư miệng,cuống họng, gan, thực quản, và vú. Uống cáng nhiều rượu, tỷ lệ ung thưcàng cao, nhát là với những người hút thuốc lá.
10) Nếp sống: thói quen ăn uống thiếu dinh dưỡng, ít vận động hoặcchứng mập phì có thể gia tăng tỷ lệ của một vài loại ung thư. Chẳng hạnnhư việc ăn uống thường xuyên thức ăn, đồ uống có nhiều chất béo sẽ giatăng tỷ lệ ung thư ruột già, tử cung và tuyến tiền liệt. Kém vận độngvà mập phì gia tăng tỷ lệ ung thư vú, ruột già, thực quản, thận và tửcung.
Nên ăn uống nhiều rau trái. Thức ăn đầy đủ dinh dưỡng gồm có chất xơ,sinh tố và khoáng chất. Vận động thường xuyên giúp duy trì cân lượng,không bị mập phì.
C. Truy tìm ung thư:
Đôi khi ta có thể tìm ra chứng ung thư trước khi phát bệnh nghĩa là cótriệu chứng. Việc thử nghiệm để tìm ung thư khi chưa có triệu chứng nàođược gọi là “screening”. Thử nghiệm ung thư giúp bác sĩ tìm thấy vàchữa trị một vài loại ung thư sớm. Nói chung việc chữa trị hiệu quả hơnkhi tìm thấy ung thư trong thời kỳ bắt đầu. Các loại thử nghiệm đượcdùng rộng rãi để truy tìm ung thư vú, cổ tử cung, ruột già và trựctràng:
- Ung thư vú: Mammogram là phương cách thông dụng nhất để truy tìm ungthư vú. Mammogram là một loại hình quang tuyến của vú. Theo Viện UngThư Quốc Gia Hoa Kỳ, (National Cancer Institute, NCI) phụ nữ từ 40 tuổitrở lên nên chụp mammogram mỗi năm. Phụ nữ có những yếu tố gia tăng tỷlệ ung thư nên thảo luận với bác sĩ, dù trong tuổi 30.
- Ung thư cổ tử cung: Bác sĩ dùng Pap test (còn gọi là Pap smear) đểtruy tìm chứng ung thư cổ tử cung.Tế bào được lấy ra từ cổ tử cung vàdùng kính hiển vi để quan sát xem những tế bào có thay đổi hoặc trở nênbất thường, kể cả những thay đổi do HPV. Phụ nữ nên bắt đầu thử Paptest 3 năm sau khi bắt đầu giao hợp, hoặc 21 tuổi. Mọi phụ nữ nên thửPap test ít nhất mỗi 3 năm một lần.
- Ung thư ruột già và trực tràng: Một số loại thử nghiệm được dung đểtruy tìm “polyps” (những “túi” tế bào mới xuất hiện trong ruột già),ung thư hoặc những chứng bệnh khác tại ruột già và trực tràng. Nhữngngười vào tuổi 50 trở lên, cần đi thử nghiệm. Nếu có thân nhân bị ungthư ruột già, hoặc có những yếu tố làm gia tăng tỷ lệ của ung thư, cầnthảo luận với bác sĩ, bất kể ở tuổi nào, để được thử nghiệm sớm. Mộthoặc nhiều phương cách thử nghiệm sau được áp dụng:
1) Máu lẫn trong phân: Đôi khi bướu hoặc polyp xuất huyết, máu lẫn vớiphân. Cách thử nghiệm này có thể khám phá một lượng máu dù rất nhỏ lẫntrong phân.
2) Sigmoidoscopy (nội soi phần ruột già có tên sigmoid): Bác sĩ dùngmột cái ống nhỏ, mềm, đầu ống là một ngọn đèn để quan sát trực tràng vàphần dưới ruột già (sigmoidscope). Bác sĩ có thể cắt bỏ polyp nếu tìmthấy qua dụng cụ này.
3) Colonoscopy (nội soi toàn thể ruột già): Bác sĩ dùng dụng cụ tươngtự như sigmoidoscope nhưng dài hơn kể trên để quan sát các phần ruộtgià. Khi tìm thấy những polyp, bác sĩ cắt bỏ và đem thử nghiệm dướikính hiển vi.
4) Double-contrast barium enema: Bệnh nhân "rửa ruột" bằng chất lỏngchứa barium, và một lượng không khí được bơm vào ruột già. Bác sĩ chụpnhiều hình quang tuyến, barium và không khí giúp bác sĩ quan sát hìnhthể ruột già trên những tấm phim.
5) Rectal Exam: Khám nghiệm trực tràng là một phần của chương trìnhkhám bệnh định kỳ. Bác sĩ đeo găng dùng ngón tay đưa qua hậu môn truytìm những khối u nằm ở vùng hậu môn, trực tràng. Có một số thử nghiệmkhác đang được sử dụng trong vòng thí nghiệm, ta chưa có kết quả chắcchắn về những loại thử nghiệm này, hiệu quả ra sao, có giúp tìm ra ungthư sớm hay không và nhất là có kéo dài mạng sống con người hay không.Bác sĩ khi khám bệnh sẽ tìm kiếm những yếu tố liên quan đến ung thư nhưtuổi thọ, tình trạng sức khoẻ của thân nhân (có ung thư hay không),cách sinh sống, ăn uống, hút hoặc nhai thuốc lào thuốc lá... trước khiáp dụng nhưng phương pháp thử nghiệm thích hợp. Đây là lúc ta nên đặtcâu hỏi về những phương pháp thử nghiệm nếu chưa hiểu rõ tại sao nhữngphương cách này được áp dụng.
Những câu hỏi cho bác sĩ:
1. Bác sĩ dùng loại tn nào cho tôi? Tại sao?
2. Loại tn này tốn bao nhiêu tiền? Bảo hiểm của tôi có trả phí tổn không?
3. Tn có đau không? Có nguy hiểm gì không?
4. Bao nhiêu lâu sau khi tn thì có kết quả?
5. Nếu thử nghiệm có kết quả bất thường, làm thế nào để tôi biết tôi vị ung thư?
D. Triệu chứng Ung thư có thể gây ra một hoặc nhiều triệu chứng sau đây:
- Bướu, u trong vú hoặc bất cứ bộ phận nào trong cơ thể - Sự xuất hiệncủa mụt đen trên da hay sự thay đổi của những mụt đen ấy - Vết lở khônglành - Ho không dứt, khản tiếng lâu không khỏi - Sự thay đổi của bộtiêu hóa (táo bón hoặc tiêu chảy) và bộ tiết niệu (đi tiểu khó khăn,nước tiểu có máu...) - Ăn khó tiêu, nuốt không trôi, nghẹn thức ăn -Xuống hoặc lên cân không có lý do - Xuất huyết - Mệt mỏi, yếu đuối Hầuhết những triệu chứng này không do ung thư, mà có thể do bướu lành hoặcnhững chứng bệnh khác. Hãy đi khám bệnh sớm khi có một trong nhữngtriệu chứng trên. Đừng chờ đợi, bệnh tật khi khám phá sớm, việc chữatrị sẽ hiệu quả hơn. Thông thường, ung thư trong thời kỳ bắt đầu khônggâyđau đớn. Khi có triệu chứng, cần đi khám bệnh sớm, đừng chờ cho đếnkhi thân thể thấy đau đớn.
E. Chẩn đoán
Khi có triệu chứng hoặc các thử nghiệm tình nghi ung thư, bác sĩ cầntìm kiếm xem những triệu chứng xuất phát từ ung thư hay những chứngbệnh khác. Bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều phương pháp chNn bệnh saukhi khám bệnh.
Các loại thử nghiệm:
Thử nước tiểu, máu hoặc những chất lỏng khác trong cơ thể giúp bác sĩđịnh bệnh. Các loại thử nghiệm này cũng cho thấy sự hoạt động của cácbộ phận như thận. Hàm lượng cao của một vài chất có thể là dấu hiệu củaung thư. Những đặc chất này được gọi là “tumor markers”. Tuy nhiên kếtquả thử nghiệm bất thường không nhất thiết là ung thư. Bác sĩ không thểcăn cứ vào các thử nghiệm kể trên để quyết đoán là ung thư, việc chNnbệnh sẽ bao gồm kết quả của nhiều phương pháp khác nhau.
Hình ảnh (imaging)
Cách thử nghiệm dùng máy móc chụp những bộ phận trong cơ thể, truy tìm cá khối u. Có nhiều loại hình ảnh:
1. X-rays: Chụp quang tuyến là cách thông thường nhất để quan sát bộ phận và xương trong cơ thể.
2. Computerized Tomography Scan (CT Scan): Máy chụp quang tuyến chụpnhiều lần một bộ phận; các hình ảnh này được liên kết với nhau qua máyđiện toán. Bác sĩ có thể dung phNm (contrast) để tạo hình ảnh rõ rànghơn. 3. Radionuclide scanning: Bệnh nhân uống hoặc chích một dung dịchchứa chất phóng xạ, những chất phóng xạ này theo máu luân lưu và côđọng tại những nơi có tế bào ung thư. Bác sĩ dùng dụng cụ dò tìm(scanner) và đo lường lượng chất phóng xạ. Máy dò tạo ra hình ảnh củacác bộ phận có chất phóng xạ.
4. Ultrasound (Siêu Âm): Siêu âm phát ra từ dụng cụ này dội lại trênmàn ảnh, máy điệntoán dung những âm thanh này để tạo ra hình ảnh của bộphận được thử nghiệm gọi là “sonogram”.
5. Magnetic Resonance Imaging (MRI): Từ trường nối với máy điện toántạo ra những hình ảnh chi tiết về bộ phận trong cơ thể, bác sĩ có thểquan sát cá hình ảnh nay và có thể làm phó bản.
6. PET Scan: Bệnh nhân được chích một lượng phóng xạ, một dụng cụ chụphình ảnh của những hóa chất trong cơ thể. Tế bào ung thư đôi khi xuấthiện trong những phản ứng hóa học này. Biopsy (Trích Mô, Sinh Thiết)Với một số ngoại lệ, bác sĩ thường cần trích mô để chNn đoán ung thư.Để trích mô, bác sĩ lấy ra một mảnh mô và gửi đến phòng thí nghiệm. Bácsĩ Bệnh Lý (pathologist) khám xét những tế bào dưới kính hiển vi. Việctrích mô được thực hiên qua nhiều cách: - bằng kim rỗng ruột (needleaspiration) bác sĩ rút tb hoặc chất lỏng - bằng cách nội soi: Bác sĩdùng dụng cụ nội soi để quan sát và lấy ra một mảnh mô khi thấy ungbướu. - giải phẫu (surgical biopsy): Bác sĩ có thể lấy ra cả cái bướu(excisional biopsy) hoặc chỉ lấy ra một mảnh nhỏ của khối u (incisionalbiopsy) Những câu hỏi cho bác sĩ trước khi trích mô:
1. Tôi cần đi trích mô ở đâu?
2. Việc này lâu hay mau?
3. Trích mô có nguy hiểm không? Có chảy máu hoặc nhiễm trùng sau khi trích mô không?
4. Bao nhiêu lâu thì có kết quả?
5. Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người báo tin và sẽ cho tôi bước kế tiếp?
F. Định Kỳ (staging):
Để sửa soạn một chương trình trị liệu hiệu quả, bác sĩ cần biết rõ ungthư đã đến thời kỳ nào. Hầu hết các loại ung thư, việc định kỳ dựa trênkích thước của khối u, và mức lan tràn của ung thư đến hạch bạch huyếthoặc các bộ phận khác. Bác sĩ có thể dùng các loại thử nghiệm nhưX-rays, CT scan… để định kỳ ung thư.
G. Chữa trị:
Bệnh nhân bị ung thư thường muốn dự phần quyết định việc trị liệu củamình. Điều dễ hiểu là họ muốn biết rõ ràng các dữ kiện, chi tiết vềchứng bệnh và các cách trị liệu sẵn có. Tuy nhiên việc mất bình tĩnh vàsự loa âu hoảng hốt về chưng bệnh khiến bệnh nhân tê liệt tâm thần,không thể đặt câu hỏi với bác sĩ. Vì thế bệnh nhân nên sắp sẵn một danhsách các câu hỏi về những điều muốn biết. Để ghi nhớ tất cả mọi chitiết trong cuộc thảo luận với bác sĩ, bệnh nhân nên mang theo sổ tay đểghi chép, đi cùng với thân nhân, nhờ họ ghi chép, hoặc xin phép thu âmbuổi nói chuyện với bác sĩ. Bác sĩ có thể chuyển bệnh nhân đến bác sĩchuyên môn, hoặc bệnh nhân có thể nhờ bác sĩ giới thiệu đến bác sĩchuyên môn. Ý kiến thứ nhì (Second Opinion) Để an tâm hơn hoặc tìm hiểukỹ càng hơn về bệnh trạng, bệnh nhân có thể lấy ý kiến thứ nhì. Nhiềuhãng bảo hiểm sẽ trả chi phí cho việc lấy ý kiến thứ nhì nếu bác sĩchính giới thiệu. Lấy ý kiến từ một bác sĩ chuyên khoa khác có thể cầnmột vài tuần lễ, khoảng thời gian này thường không ảnh hưởng đến hiệuquả của việc chữa trị. Đôi khi bệnh nhân không thể chờ đợi và không nênchờ đợi, vì thế nên thảo luận với bác sĩ về khoảng thời gian chờ đợinày.


«Ðề Tài Trước|Ðề Tài Kế»


Trả lời nhanh
Trang 1 trong tổng số 1 trang
Có Bài Mới Có bài mới đăngChưa Có Bài Mới Chưa có bài mớiChuyên Mục Ðang Bị Khóa Ðã bị đóng lại
Free forum | © phpBB | Free forum support | Report an abuse | Sosblogs.com