Diễn Đàn Bác Sĩ Y Học Dự Phòng

Diễn Đàn Bác Sĩ Y Học Dự Phòng

TƯƠNG LAI LÀ DO CHÚNG TA QUYẾT ĐỊNH
 
Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
524 Số bài - 36%
429 Số bài - 29%
311 Số bài - 21%
116 Số bài - 8%
27 Số bài - 2%
24 Số bài - 2%
12 Số bài - 1%
11 Số bài - 1%
10 Số bài - 1%
8 Số bài - 1%


Admin nhắn với tất cả: xi lỗi trong thời gian qua do bạn công tác nên admin vắng nhà bây giờ admin đã trở lại sẽ làm cho diễn đàn tươi mới hơn              mr_soc nhắn với ydp10: co ai la dan ydp tp hcm ko.cung lam wen giup do mhau trong hok tap nha                 
Bạn phải đăng nhập để gửi Thông điệp
Tài khoản:Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập:
:: Quên mật khẩu
Gửi đến :
Emoticon
Lời nhắn :

|
Bookmarks

*Tử Cấm thành (Huế)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Tue Mar 22, 2011 1:31 pm
không có việc gì khó, chỉ tại không biết làm
vodanh1402
menber

Cấp bậc thành viên
Danh vọng:
116%/1000%

Tài năng:28%/100%

Liên lạc
Xem lý lịch thành viên

Thông tin thành viên
» Nam
» Tổng số bài gửi : 116
» Points : 328
» Reputation : 6
» Join date : 11/11/2010
» Age : 28
» Hiện giờ đang:

Bài gửiTiêu đề: *Tử Cấm thành (Huế)



Khu vực Tử Cấm thành 6.
Đại Cung môn 7. Tả vu, Hữu vu 8. Điện Cần Chánh 8a. Điện Võ Hiển 8b.
Điện Văn Minh 9a. Điện Trinh Minh 9b. Điện Quang Minh 10. Điện Càn Thành
11. Điện Khôn Thái 11a. Viện Thuận Huy 11b. Viện Dưỡng Tâm 12. Lầu Kiến
Trung 13. Thái Bình Lâu 14. Vườn Ngự Uyển 29.Ngự Tiền Văn phòng 30. Lục
Viện 31. Điện Minh Thận


Trong Tử Cấm thành có khoảng 50 công trình kiến trúc với qui mô lớn
nhỏ khác nhau được phân chia làm nhiều khu vực, tổng số công trình đó
biến động qua các thời kỳ lịch sử.
Xét về bình diện, Tử Cấm thành là một hình chữ nhật có cạnh là 324 x 290,68m, chu vi là 1.229,36m , thành cao 3,72m, dày 0,72m xây hoàn toàn bằng gạch vồ
Về kiến trúc, Tử Cấm thành cũng như Đại Nội có những điểm chính sau:

  • Bố cục mặt bằng của hệ thống kiến trúc chặt chẽ và đăng đối. Các
    công trình đều đối xứng từng cặp qua trục chính (từ Ngọ Môn đến lầu Tứ
    Phương Vô Sự) và ở những vị trí tiền, hậu; thượng, hạ; tả , hữu; luôn
    nhất quán (tả văn hữu võ, tả nam hữu nữ, tả chiêu hữu mục). Con số 9 và 5
    được sử dụng nhiều trong kiến trúc vì theo Dịch lý, con số ấy ứng với mạng thiên tử.
  • Bố cục của hệ thống Hoàng cung biểu hiện rõ tư tưởng độc tôn
    quân quyền. Tử Cấm thành là một tiểu vũ trụ của hoàng gia, trong đó đầy
    đủ mọi tiện nghi sinh hoạt: ăn ở, làm việc, học tập, nghỉ ngơi, giải
    trí, điện Càn Thành (10) là nơi vua ăn ngủ tọa lạc tại trung tâm của vũ trụ đó.

Bên trong Tử Cấm thành bao gồm hàng chục công trình kiến trúc với qui mô lớn nhỏ khác nhau, phân chia làm nhiều khu vực. Đại Cung môn (6)cửa chính vào Tử Cấm thành được xây vào năm 1833. Sau Đại Cung môn là một sân rộng rồi đến điện Cần Chánh (Cool, là nơi vua làm việc và thiết triều.
Cách bố trí, sắp đặt trong điện Cần Chánh cũng tương tự điện Thái Hòa,
gian giữa đặt ngai vua, tả hữu treo bản đồ thành trì các tỉnh.
Hai bên điện Cần Chánh có nhà Tả Vu, Hữu Vu (7) là nơi các quan ngoài chờ và sửa sang, chỉnh đốn quan phục trước khi thiết triều.
Chái bắc Tả Từ Vu là viện Cơ Mật, chái nam là phòng Nội Các, nơi đây
tập trung phiến tấu của các Bộ, nha trình vua ngự lãm. Sau lưng điện Cần
Chánh trở về bắc là phần Nội Đình là khu vực ăn ở, sinh hoạt của vua và
gia đình cùng những người phục vụ. Điện Càn Thành (10) là nơi vua ở, trước điện có cái sân rộng, ao sen và bức bình phong chắn điện Càn Thành và điện Cần Chánh.
Cung Khôn Thái nằm ở phía bắc điện Càn Thành, bao gồm điện Khôn Thái (11), điện Trinh Minh (9a)... là nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng Quí Phi và các phi tần mỹ nữ thuộc Nội Cung. Nguyên dưới triều Gia Long tên là cung Khôn Đức, đến triều Minh Mạng thứ 14 (1833), vua đổi tên là Khôn Thái.
Sau cung Khôn Thái là lầu Kiến Trung (12), trước đây là lầu Minh Viễn do Minh Mạng làm năm 1827, lầu có 3 tầng cao 10.8m, lợp ngói hoàng lưu ly, trên lầu có kính viễn vọng để vua quan sát cảnh từ xa.
Năm Tự Đức thứ 29, lầu Minh Viễn bị triệt giải, đến năm 1913, vua Duy
Tân cho làm lại lầu khác theo kiểu mới gọi là lầu Du Cửu. Năm Khải Định
thứ nhất (1916), cải tên lại là lầu Kiến Trung.
Ngoài những công trình chính trên được sắp đặt trên một đường thẳng
sau cửa Đại Cung, Tử Cấm thành còn có những cung điện, lầu tạ khác hai
bên tả hữu là khu vực phục vụ việc ăn uống, sức khỏe và giải trí của vua
và hoàng gia như: Thượng Thiện đường, Thái Y viện, Duyệt Thị Đường,
vườn Thiệu Phương, vườn Ngự Uyển (14), gác Đông Các, Tu Khuê tơ lầu, điện Quang Minh (9b) (chỗ ở của Đông Cung hoàng tử), điện Trinh Minh (9a) (chỗ ở của các bà phi), viện Thuận Huy (11a) (chỗ ở của các bà Tân), Duyệt Thị đường, lục viện (30)...Ngoài ra, còn có một số công trình kiến trúc khác dành cho tín ngưỡng tâm linh như chùa thờ Phật, miếu thờ trời, tinh tú và Quan Công.
Vương phi, cung phi
Trong Tử Cấm thành, Hoàng quý phi ở trong cung Khôn Thái, vị trí và cuộc sống Hoàng quý phi là cao nhất trong các vương phi.
Điện chính của cung Khôn Thái là điện Cao Minh Trung Chính được xây
năm 1840 tức năm Gia Long thứ 3. Chính tịch 7 gian, tiền tịch, hậu tịch
đều 9 gian, diện làm theo kiểu "trùng thiềm trừng lương", lợp ngói âm
dương. Cung Khôn Thái ở vị trí ngay sau lưng điện Càn Thành.
Về thứ tự cấp bậc vương phi, Minh Mạng năm thứ 17
đặt làm chín bậc: Hoàng quý phi ở trên bậc nhất giúp Hoàng thái hậu
trông coi lương thực và chỉnh tề công việc bên trong cung. Quý phi, Hiền phi, Thần phi bậc nhất hay là "nhất giai phi". Đức phi, Thục phi, Huệ phi bậc nhì hay là "nhị giai phi". Quý tần, Hiền Tần, Trang tần bậc ba hay là "tam giai tần". Đức tần, Thục tần, Huệ tần bậc bốn hay là "tứ giai tần". Lệ tần, An tần, Hoà tần làm bậc năm hay là "ngũ giai tần". Tiệp dư làm bậc sáu hay là "lục giai tiệp dư". Quý nhân làm bậc bảy hay là "thất giai quý nhân". Mỹ nhân làm bậc tám hay là "bát giai mỹ nhân", và Tài nhân làm bậc chín hay là "cửu giai tài nhân". Dưới tài nhân là "tài nhân vị nhập giai", là những người được tuyển chọn để làm tài nhân, kế dưới là cung nga thể nữ. Để tuyển cung phi,
triều đình thường chọn các con gái của quan đại thần trong triều, con
của người nào có phẩm trật cao thì được tuyển vào cấp bậc cao, phẩm trật
thấp thì cấp bậc thấp. Con của thường dân được tuyển vào cung là những
trường hợp đặc biệt, phải đẹp và khi mới tuyển thì chưa được xếp vào cửu
giai mà chỉ được gọi là "tài nhân vị nhập lưu"
Cung Khôn Thái (11) là nơi dành riêng cho Hoàng quý phi ở, điện Trinh Minh (9a) là nơi ở của các bà phi, viện Thuận Hy (11a) là nơi các bà Tần ở,
ngoài ra còn có viện Đoan Huy, Đoạn Thuận, Đoan Hoà, Đoan Trang và Đoan
trường là chỗ ở của các bậc Tiệp dư, Tài nhân, Mỹ nhân, Quý nhân cùng
những tài nhân vị nhập giai, các viện trên gọi là "lục viện". Để tổ chức
mọi việc liên quan đến sự quản lý, dạy dỗ các cung phi và giữ gìn các
dồ vật trong nội cung, triều đình đặt ra chức Lục Thượng, do các quan nữ
đảm nhận. Quan nữ thường là các bà trong nội cung được vua tin tưởng
hay do triều đình tuyển dụng, người đứng đầu tổ chức nữ quan là Hoàng
quý phi. Nữ quan cũng được chia thành 6 bậc là Quản sự, Thống sự, Thừa
sự, Tùy sự, Tòng sự và Trưởng ban.
Cuộc sống, công việc của các vương phi, cung tần trong Tử Cấm thành
nhàn hạ, no đủ về vật chất tuy nhiên địa vị phụ thuộc cấp bậc của mình
và sự yêu mến của vua. Trong thời gian mới thu nhận vào Tử Cấm thành, họ
phải tập trung tại Đoan Trang viện để học mọi phép tắc, luật lệ, nghệ thuật xử thế, các điều cấm kị, học nghệ thuật phục vụ vua, ăn nói, đi đứng.v.v...Cung
nữ có thể giải trí, hóng mát, xem hoa tại các vườn thượng uyển hay câu
cá, sáng tác thơ ca, đọc truyện...hay trong ký đại lễ cũng được xem
tuồng cùng vua. Khi vua băng hà, các bà phi phải lên chăm lo hương khói
tại lăng vua, sau hai năm lại trở về cung Diên Thọ để phục vụ Hoàng thái
hậu.
Các cung phi may mắn được phục vụ và được vua yêu mến sẽ được tấn
phong đến chức cung giai cao nhất, tuy nhiên số này hiếm hoi, phần đông
phải chịu thân phận bỏ rơi trong lục viện. Kể từ khi được tuyển hay tiến
cung, các phi tần không được gặp cha mẹ, người thân trừ một vài trường
hợp đặc biệt được nói chuyện với mẹ qua bức màn sáo che, còn người cha
phải đứng ngoài sân. "Đưa con vô nội" là câu nói người Huế với hàm ý như đã "mất con rồi". Trong triều Nguyễn,
có 2 lần cung phi được thoát khỏi Tử Cấm thành, lần thứ nhất vào năm
Minh Mạng thứ sáu (triều đình cho ra 100 người để giải trừ thiên tai) và
năm 1885, khi kinh đô thất thủ, tất cả cung phi đều chạy thoát ra khỏi
hoàng thành. (Vậy việc tuyển con các quan vào cung chẳng là 1 hình thức cầm giữ con tin, các quan sẽ không dám làm phản?!)
Thái giámTrong Tử Cấm thành, thái giám lo việc tổ chức quản lý cung tần mỹ nữ nơi hậu cung. Công việc của họ là hầu hạ nhà vua trong các việc liên quan đến chuyện gối chăn,
thái giám lo sắp xếp thứ tự, lên danh sách các phi tần và sắp xếp giờ
để vua gặp gỡ, ghi chép lại danh tánh các bà phi đó cùng với giờ giấc,
ngày tháng cẩn thận để sau này nếu bà phi có con với vua sẽ được xác
nhận. Một số thái giám khác được điều sang phục dịch, hầu hạ các cung phi goá bụa của vua đời trước tại các lăng tẩm
nhưng chỗ ăn, ở và phục dịch thường xuyên của họ vẫn là Tử Cấm thành.
Để phân biệt, thái giám được cấp trang phục riêng bằng lụa xanh dệt hoa
trước ngực, đội một thứ mũ cứng hoặc khăn đóng. Khi sống, họ lo phục
dịch trong Tử Cấm thành hoặc lăng tẩm, khi già yếu, họ buộc phải rời Đại
Nội, ra dưỡng bệnh hoặc nằm chờ chết tại một tòa nhà ở phía bắc Hoàng
thành, đó là cung Giám Viện.

Mặc dầu văn hóa Việt Namvăn hoá Trung Hoa có rất nhiều tương đồng, tương cận nhưng tại Việt Nam
hầu như ít có những thái giám khuynh loát triều chính như ở Trung Hoa,
trái lại có khá nhiều danh thần xuất thân từ hàng yêm hoạn.
Người hoạn quan thứ nhất nổi danh trong lịch sử Việt Nam là Lý Thường Kiệt đời nhà Lý với chiến công "phá Tống bình Chiêm".
Người hoạn quan thứ hai cũng rất tiếng tăm là Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc làm quan dưới đời vua Lê Hiển Tông, đã cùng Phạm Đình Trọng dẹp yên hai cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu CầuNguyễn Danh Phương, khi về hưu được phong làm Quốc lão. Về sau ông đem đại quân đánh vào Phú Xuân, bắt được Trương Phúc Loan rồi trấn thủ Thuận Hóa, chấm dứt một giai đoạn phân tranh Nam – Bắc kéo dài hơn 200 năm. Trong lịch sử Việt Nam, ngoài Lý Thường Kiệt,
có lẽ chỉ có Hoàng Ngũ Phúc là tướng xuất thân từ hoạn quan có tài kiêm
văn võ và có nhiều quân công nhất. Tuy nhiên, do thành tích của ông chỉ
trong nội chiến, còn Lý Thường Kiệt lập công trong chống ngoại xâm nên
Lý Thường Kiệt nổi tiếng hơn ông. (hèn gì tới hôm nay mới
nghe tiếng HNPhúc, và chúa Trịnh mạnh thế nào, và tại sao Nguyễn Ánh có
thể đánh bại Tây Sơn lập nên nhà Nguyễn _ Trịnh - Nguyễn - Tây Sơn : 3
lực lượng chính tranh giành quyền lực)

Người thứ ba là Tả quân Lê Văn Duyệt khai quốc công thần triều Nguyễn mà nay mộ của ông tại Bà Chiểu, Gia Định
vẫn là một đền thờ được dân chúng chiêm bái gọi là Lăng Ông. Lê Văn
Duyệt tuy cũng xuất thân hoạn quan nhưng ông bản chất là người ái nam ái nữ chứ không phải tự thiến để thành quan thị như Việt Quốc công Lý Thường Kiệt hay Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc.
Việc kén chọn hoạn quan ưu tiên tuyển những trẻ em "ái nam ái nữ"
do lệnh của triều đình. Người dân nào sinh con có khuyết tật đó được
quan sở tại tới khám xét rồi làm sớ tâu lên. Cha mẹ đứa bé sẽ nuôi con
đến lúc 13 tuổi, sau đó Bộ Lễ sẽ đưa vào cung tập sự hoạn quan. Làng nào có hoạn quan tiến cử được miễn binh lính, phu phen tạp dịch và cả sưu thuế (ái chà, hồi xưa bê đê quan trọng quá, không phải khổ sở làm giới thứ 3 như bi giờ).
Nếu không có đủ số trẻ ái nam ái nữ, thanh niên nào tự nguyện thiến bộ
phận sinh dục sẽ được tuyển chọn. Tuy nhiên, thái giám Việt Nam chỉ là
một số nhỏ không được trọng vọng lại chỉ được làm những việc lặt vặt
chưa thành hẳn một tầng lớp có ảnh hưởng như Trung Hoa.


«Ðề Tài Trước|Ðề Tài Kế»


Trả lời nhanh
Trang 1 trong tổng số 1 trang
Có Bài Mới Có bài mới đăngChưa Có Bài Mới Chưa có bài mớiChuyên Mục Ðang Bị Khóa Ðã bị đóng lại
Free forum | © phpBB | Free forum support | Report an abuse | Create a blog